THƠ MỚI

By Chủ bút: Hoàng Vũ Thuật

 

Hoàng Vũ Thuật


             
cầu mirabeau

                
             
trên cầu Mirabeau

Apollinaire đang quệt sơn lên vòm cong
tuyết

sáng



sông Seine chậm rãi

nhịp điệu tháng ngày qua


 

dòng người dài thêm già đi mà sông thì mãi
trẻ

mùa này cây trút lá cho trời rộng thêm



khôi nguyên trái tim ứa ra vệt son tươi rói

bầy mòng biển líu ríu tình yêu dại khờ


anh gieo vào đôi mắt nâu câu thơ Mirabeau  

Apollinaire còn đây



em thả tóc vàng óng mượt

cầu đỏ bừng sau cặp môi hôn


Paris
1/1/2011



      trước nhà thờ đức bà paris



đàn chim không biết sợ hãi

chúng sà xuống hồn nhiên

giữa lòng bàn tay

ăn mẩu bánh mì

hình như không biết tôi đến từ xứ sở mà
chim

là đặc sản



ở đó loài chim bị chém ngang tiếng hót

vặt trụi lông

thiêu trên bếp than rừng rực

ở đó chim không có quyền bay vào trời rộng

bơi giữa hồ xanh trong

chim chỉ biết mua vui yến tiệc



hai mươi tám vị tông đồ ngự trên tường cao

hai mươi tám cánh thiên thần

trắng muốt

tôi là thằng gù Quasimođo

đơn độc

kéo hồi chuông

hỡi những hồn oan bé nhỏ bây giờ nơi đâu


Pari 3/1/2011


            
            thằng cu đái



             
ngày này sang ngày khác

năm này sang năm khác

đời này sang đời khác



              thằng cu
(*) rướn cong người thỏa thích tè ra

sô cô la

bia

dâu chua cam ngọt

tóe tung tiếng người



              nước đái cứu đồng loài thoát lưới bom hủy diệt

những cơn hỏa hoạn điên khùng

cu đái cười ngạo nghễ



              tuyết lợp trắng mái nhà Brussels

chuông ngựa leng keng ấm quảng trường giá buốt

thằng cu hồn nhiên

xuống đầu nhân loại



              cơn mưa hòa bình


                    Brussels
5/1/2011

_____

(*) Tượng Thằng cu đái biểu tượng của Vương quốc Bỉ.

More...

THẾ GIỚI TƯƠNG HỢP TRONG THƠ HOÀNG VŨ THUẬT (Phần I)

By Chủ bút: Hoàng Vũ Thuật

 

Lời bạch:

Năm 2010 tôi in cùng lúc hai tập thơ: MàuNgôi nhà cỏ nhân dịp này Nhà phê bình văn học PGS TS Hồ Thế Hà có bài viết: "Thế giới tương hợp trong thơ Hoàng Vũ Thuật". Tôi thật sự trân trọng cám ơn anh Hồ Thế Hà và xin được giới thiệu cùng bè bạn. (Bài viết được chia làm hai phần 1 và 2)

                                                   (Phần I)

THẾ GIỚI TƯƠNG HỢP TRONG THƠ
HOÀNG VŨ THUẬT

                                                                                                                  

Hồ Thế Hà

Hành trình thơ Hoàng Vũ Thuật trải dài gần 40 năm với những thăng trầm vinh quang và hệ lụy. Và ở từng chặng hành trình Hoàng Vũ Thuật đã lấy thơ ca làm cứu cánh làm chứng chỉ văn chương và tâm thức sáng tạo của mình với quan niệm nghệ thuật sáng rõ như trong lời tự bạch anh viết: "Với tôi hầu như tất cả những sản phẩm sáng tạo đều xuất phát từ một chuyện buồn một niềm cô đơn vật vã. Câu thơ vui cũng hình thành từ nước mắt. Cô đơn là một đặc tính của con người. Trong ý niệm tương đối cô đơn thuộc phạm trù cái đẹp. Tôi coi trọng cái riêng con người chất cá thể con người nên có lúc bài thơ bật ra trong trạng thái vô thức. Thơ chính là mảnh tâm trạng cõi riêng thân phận một cảnh huống đơn độc của con người"(1). Đến với thơ Hoàng Vũ Thuật tôi chọn chìa khóa nội tâm này để tìm ra cơ chế tâm lý sáng tạo trong hai tập thơ "song sinh" của ông được xuất bản năm 2010: Ngôi nhà cỏ (Nxb Hội Nhà văn) và Màu (Nxb Lao động).

Điều nhận xét đầu tiên và tổng quan của tôi về hai tập thơ này là ở chất đời chất triết lý nghiệm sinh được tác giả nghiền ngẫm từ kinh nghiệm buồn của chính mình và thế giới chung quanh trên chất liệu ngôn từ được tổ chức và tư duy theo "một hệ thi pháp" mang tính sáng tạo riêng độc đáo mới mẻ hơn so với các tập thơ trước. Sự tiết kiệm ngôn từ và ưu tiên thể hiện chất thơ trên trục lựa chọn mà nhà thi học R. Jakobson quan tâm chính là ý thức sáng tạo mà Hoàng Vũ Thuật đã theo đuổi và thành tựu. Chính điều đó đã làm cho chất thơ và sự tạo sinh nghĩa trong thơ Hoàng Vũ Thuật trở nên đa dạng biến ảo lấp lánh lời giải đáp về những điều muôn thuở của cuộc sống và hiện sinh con người. Chỉ riêng phẩm chất ấy thôi cũng đủ để thơ ông hấp dẫn độc giả bằng những tầm đón đợi và đón nhận khác nhau. Với ý nghĩa đó hai tập thơ đã trở thành thông điệp da diết về cõi người kiếp đời vẫy gọi liên chủ thể tiếp nhận.

Bài thơ Chân dung có thể xem là cái nhìn đồng cách hóa để Hoàng Vũ Thuật nói lên quan niệm của mình về sứ mệnh của thi ca:

hiện ra trên trang giấy những gương mặt

ông đã vẽ trang trọng và

mực thước

chằng chịt đường gân thớ thịt căng phồng

lửa đèn tắt sáng nụ cười trên môi

thời sủng ái

...

trên trang giấy gương mặt ông vẽ

máu thấm bao cánh hoa

không còn hương sắc

những cánh hoa

bốc cháy

nơi miền đất chết

(Chân dung)

Ở đó nhà thơ tự vực dậy những hiện hữu và hư vô những tiềm thức vô thức và ý thức để nhận biết bóng tối và ánh sáng ngày và đêm bão tố và bình yên dịu dàng và cuồng nộ qua đó thấy hết những đối lập và sinh thành của vạn vật cũng là một thực tế có tính bản thể triết học mà con người phải đối diện để tồn tại và hành động như một chủ thể hiện sinh tự nghiệm: "mấy vạn cánh chim đến được phương ấy - khoảng cách ngày và đêm - đủ nhận biết vũ trụ... mấy vạn bước chân đến được miền ấy - khoảng cách tối và sáng - đủ nhận biết thế giới... mấy vạn lời nguyền đến được chốn ấy - khoảng cách bão tố và bình yên - đủ nhận biết nhân gian... mấy vạn hơi thở đến được cõi ấy - khoảng cách yêu và giận - đủ nhận biết mình" (Nghiệm). Qua thơ Hoàng Vũ Thuật luôn nghĩ và đặt ra những câu hỏi trùng điệp về những điều có tính hằng cửu và tính khoảnh khắc của cuộc sống và con người như cách để tự nhận thức và kêu gọi mọi người cùng nhận thức:

một cái gì đó hiện hữu sẽ tốt lên rất nhiều

cho mỗi thời khắc sống hướng về phía trước

anh đã bước không mệt mỏi

bằng đôi chân nối dài

mảnh ghép quả cảm

Cứ thế nhà thơ làm người hành trình đơn độc trong đêm tối có khi vấp ngã nhưng liền đứng dậy và mong thấy một cái gì đó hiện hữu trước mặt mình để được tin yêu và có hình bóng để làm điểm tựa tinh thần "dẫm lên cơn đau đơn độc - đạp đổ khoảnh khắc bóng tối nhìn ra vĩnh hằng và - anh tìm thấy - một cái gì đó" (Một cái gì đó). Phải tin vào những quy luật tương đối của tự nhiên và cuộc sống xã hội như thế thì mới mong nhận thức và tìm  lối thoát trong tư tưởng và cảm tính để đối diện với sự thật:

có lẽ nghìn năm đã trôi qua

trong giấc ngủ không là giấc ngủ

trong tỉnh thức không là tỉnh thức

trong cái chết không là cái chết         

                                             (Giao cảm)

Hoặc:

hết con đường gặp con đường lại con đường 

thăm thẳm

dấu chân mờ tiếp dấu chân chồng dấu chân

cuộc chạy trốn phiêu pha nghiệt ngã


         sẽ rụng rơi như trái chín qua thời

sẽ vụn nát những điều chưa tới

thất vọng còn thất vọng nữa

(Thất vọng còn thất vọng nữa)

Trong hai tập thơ ta bắt gặp một thực tế có tính dụng điển của Hoàng Vũ Thuật. Đó là hình tượng và tư tưởng lạc lối hay mất tích cũng thế. Đó phải chăng là sự vô nghĩa lý và bất ổn của cuộc sống trước những rào cản của hiện thực mà con người quyền lực cố tình bày ra để hạn chế con người nhỏ bé mà F. Kafka đã nhìn thấy từ lâu trong Lâu đài Vụ án. Đó có thể xem là tâm lý hậu hiện đại kiểu "như người điên đi trong dầm dã - hai mươi năm sau - không biết nơi nào để dừng" (Mưa trên mười ngón tay dài):

- anh ngược con đường

để trở về con đường khác

(Ngược)

- đi trọn một năm vẫn không

ra khỏi vùng ám tượng

lưỡi hái thần chết

đốn ngã linh hồn

...

đi trọn một đời vẫn không

ra khỏi cuộc tranh giật

nghìn cánh tay giơ cao

biểu quyết

không biết nữa cái gì xảy ra

ý tưởng chắp nối lạc vần

rung trên sợi dây mặc cảm

lửa

(Ý nghĩ vụt hiện)

Bài thơ K đặt vấn đề về hiện tồn và hư vô khi chính con người không thể trả lời cho những câu hỏi day dứt do chính mình đặt ra: "liệu chúng mình còn sống được tới hôm sau - bốn bề núi và núi - bốn bề đá và đá - bốn bề suối và suối - sương âm u run rẩy bốn bề - trái đất chật chội thế này ư". Và một nỗi cô đơn đồng hiện hữu:

biết nói thế nào với k

ba vạn chín nghìn bậc ta chưa hết một nghìn

thôi ngủ đi ngày mai biết đâu rồi khác

ta gõ tiếng chuông cho số kiếp lạc loài

mây trắng chở về miền thiên hư


          ngủ đi ngủ đi k

đàn bướm ngoài kia đã ngủ

ngọn nến vàng rũ xuống từ lâu

mặt trời cuộn tròn đêm

trắng

Hình như không chỉ có con người - chủ thể có ý thức mới cảm nhận được nỗi cô đơn và lạc lõng ấy. Hoàng Vũ Thuật đã thấy được cả sự mất tích và lạc loài của các sự vật hiện tượng trong không gian. Bài chó con là một trường hợp đáng thương như thế:

đứng trước cổng nhà

ngơ ngác

người người bận rộn vô ra

một con chó con tội nghiệp

quên mất đường về

lang thang

(Chó con)

Với bài thơ Đọc Kafka theo tôi là một thực tế cho thấy ở một ý nghĩa có tính triết lý con người là một thế giới xa lạ với thế giới thực tồn. Khi ấy muốn cô đơn cũng không được phép cô đơn muốn trả lời cho những nghi vấn cũng không thể trả lời cho những nghi vấn chỉ còn biết dùng phép thắng lợi tinh thần   ước mơ vào một thế giới trời ban cho trong tưởng tượng:

trốn chạy thế giới nghiệt ngã

câm lặng nấm mồ chật hẹp

dưới vực thẳm tình yêu

em trao hết anh tất cả thuần khiết

mà thế gian gạt bỏ


         chết miền phục sinh

phôi thai từ thế giới khác

em gọi thế - giới - trời - ban - cho

không có hạnh phúc giống nhau

không có cay đắng giống nhau

gương mặt anh và em hai nửa trái đất hợp lại


         đơn lẻ cơn đau đến mức không hiểu nổi

ai sinh ra ta và ta sinh ra ai

chỉ tiếng khóc vỡ òa tồn tại

đứa bé

rời bụng mẹ bước ra ngoài


         như chiếc lá khan buồn mất ngủ

trên nhành cây cạn kiệt thân hình

ta ngù ngờ u mê ương dại

thế giới là ai

và ta nữa là ai

(Đọc Kafka)

Trả lời phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng về mục đích và khát vọng sáng tạo thi ca Hoàng Vũ Thuật quan niệm dứt khoát: "viết để giải tỏa ẩn ức luôn đeo đẳng mình viết cho mình. Tôi quan niệm rằng thơ là dấu ấn cá nhân. Dấu ấn từng cá nhân làm nên dấu ấn xã hội. Một xã hội tốt đẹp hay không hãy nhìn vào từng cá thể ấy. Tôi cự tuyệt với những thứ thơ chung chung những thứ thơ lấy đề tài chủ đề làm thước đo cho nghệ thuật. Vì thế các nhà thơ đích thực họ luôn cô đơn trước đám đông thậm chí bị khích báng lên án hoặc chỉ trích"(2). Như vậy là đã rõ. Trong hai thi phẩm Ngôi nhà cỏ   Màu Hoàng Vũ Thuật đã tạo được tâm thức sáng tạo khớp với quan niệm và  tư tưởng trên. Và may thay những khát vọng thi ca ấy không mất hút giữa rổn rang câu chữ mà chúng biến thành thế giới tương hợp mới mẻ trong thơ. Nhiều bài thơ hay được cấu trúc theo trục lựa chọn với kiến trúc hiện đại hình thức tự do tổ chức câu thơ theo dòng tâm trạng có khi vô thức trực giác và vắt dòng theo nhịp cảm xúc thế sự triết lý. Kết cấu theo nhịp thơ lỏng và chặt đan xen kiệm lời làm cho thế giới hình tượng lung linh lạ hóa nhưng lại có sức năng động bùng nổ bên trong bên sau bên xa của bề mặt câu chữ. Tôi gọi đó là thơ tạo nghĩa hay thơ ẩn dụ thơ tượng trưng cũng thế.



(1) Nhà văn Việt Nam hiện đại Nxb Hội nhà văn tr. 289.

More...

THẾ GIỚI TƯƠNG HỢP TRONG THƠ HOÀNG VŨ THUẬT (Phần II)

By Chủ bút: Hoàng Vũ Thuật

 

Lời bạch:

Năm 2010 tôi in cùng lúc hai tập thơ: MàuNgôi nhà cỏ nhân dịp này Nhà phê bình văn học PGS TS Hồ Thế Hà có bài viết: "Thế giới tương hợp trong thơ Hoàng Vũ Thuật". Tôi thật sự trân trọng cám ơn anh Hồ Thế Hà và xin được giới thiệu cùng bè bạn. (Bài viết được chia làm hai phần 1 và 2)                                                   
                                                      
(Phần II)

THẾ GIỚI TƯƠNG HỢP TRONG THƠ
HOÀNG VŨ THUẬT

                                                                                                                  

Hồ Thế Hà

Những bài thơ hay đều có những đặc điểm thi pháp nói trên như: Hạt cúc Thăng Long Trên cánh đồng anh Mắt đêm Phác thảo Khát Ảo giác Dấu lặng Gãy khúc Vô thức Những mảnh vỡ không nhìn thấy... (Ngôi nhà cỏ) Đọc Kafka Màu Điều ấy có nghĩa gì Viết dưới tượng Exênin Đo Lăng tẩm Chân dung K Nghiệm Tại vì Tháp Mãi viên trà... (Màu). Hai tập thơ xuất bản cùng thời gian và có lẽ cũng sáng tác cùng thời gian nên thống nhất về phương thức biểu hiện và giọng điệu. Nghệ thuật hiện đại và dấu ấn hậu hiện đại được quan tâm tăng cường đã làm cho thơ Hoàng Vũ Thuật có những phẩm chất nghệ thuật mới nhưng vẫn dựa vào cảm xúc chân thành và triết luận thâm thúy thời hiện đại. Vì vậy tránh được sự làm dáng đáng trách như một số nhà thơ trẻ thường mắc phải. Ý thức cách tân thơ luôn thường trực trong từng cảm giác bé nhỏ của mình trước hiện thực cuộc sống đang từng giờ thay đổi đã thôi thúc Hoàng Vũ Thuật phải cách tân bút pháp phải tạo ra mối quan hệ hài hòa mới giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ: "Nghệ thuật vì thế không thể bằng lòng với những gì đã có rập khuôn trùng lặp cái xưa cũ. Nghệ thuật phải làm cuộc cách mạng tự thân để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ mới của công chúng... Có điều sự thay đổi của thơ không phải sự thay đổi thiên về mặt chữ nghĩa nặng về hình thức. Cảm xúc con người không đứng yên luôn ở trong thế vận động. Cảm xúc không thăng hoa không nhập thần thơ sẽ trở thành thứ xác chữ. Con sông sáng tạo chẳng khác nào mặt hồ phẳng lặng buồn tênh"(3).

Những giả định "giá như mọi vật đồng nghĩa với cái không tồn tại - giá như cứ thế mà xa cứ thế mà quên" luôn xuất hiện trong thơ Hoàng Vũ Thuật như là những mệnh đề thao thức thơ về nhân tình thế thái. Chúng như những "bông hoa vỡ ngàn cánh máu - rỏ xuống lót ổ câu thơ - bào thai thiên thần". Hàn Mặc Tử cách đây hơn nửa thế kỷ cũng đã có những liên tưởng kỳ lạ như thế: "Sao bông phượng nở trong màu huyết - Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu" nhưng không táo bạo như Hoàng Vũ Thuật:

sao không được làm sao đổi ngôi

đốt cháy đêm đông đặc

sao không cuộn tròn hạt nước

chìm vào thâm u

sao không được làm đá sỏi

rơi theo nhau nát vụn cùng nhau

                      (Hoa vỡ)

Nỗi hẫng hụt để biết đời đang thường trực những nỗi buồn thánh thiện lại là những ý nghĩ cứu rỗi dính kết vào nhau để linh hồn được phiêu diêu trong cỏ cây hoa lá để chứng thực những mảnh đời bé mọn đang từ bi dưới cánh lá bồ đề: "nấp dưới cánh lá bồ đề màu phật - một cô bé một thiếu nữ một người mẹ - cô bé vắt tuổi thơ qua đồi sim - thiếu nữ mười sáu lần trăng đỏ - người mẹ đội nước lên chùa" (Mãi viên trà). Và cũng chỉ có cách đó nhà thơ mới chứng kiến những hiện thực đang diễn ra trước mắt mình:

mười lăm phút dư thừa đói nghèo khôn dại

chiếc gương phản chiếu hành tinh

trẻ và già gái và trai hiền và dữ

tóc nâu tóc vàng tóc xanh

cuối mùa thu rừng phong trút lá

trơ trọi mình họa sĩ giữa khung đêm

(Họa sĩ trong công viên kuntura)

Tất cả điều ấy có ý nghĩa đánh thức những tiềm lực những va chạm và rạn vỡ khiến con người không thể thờ ơ trước những biến động của thời hiện đại dù có lúc họ tỏ ra bất lực bởi "mọi thứ  - dài - và - ngắn - hơn tôi tưởng" mọi thứ đều vụt hiện vụt biến:

vì những tháp chuông nhà thờ

                     nối với một ngôi sao

vì chú lạc đà trong công viên bỏ quên sa mạc

vì đôi chân trần bạch dương quyến rũ

(Điều ấy có ý nghĩa gì)

Cho nên con người cũng phải nương vào vũ trụ để tồn tại để làm lại những tương hợp sinh thành dù điều đó không phải dễ: "làm lại thế giới đã khó - làm lại con người càng khó hơn" nhưng dù sao cũng phải làm lại từ đầu:

thế giới còn phải làm lại từ đầu

huống gì một con người

thế giới sắp xếp tưởng đã ngăn nắp qui củ

thế rồi xáo tung lên tất thảy


          tôi cũng là thế giới

tự đảo lộn mình

đi đứng nói cười kiểu của mình

                           (Thế giới và tôi)

Tác giả thao thức về một cõi mê lộ có dấu chấm linh huyền để "cho tôi - thêm lần trời rộng - thêm lần mặt đất trinh bằng - cho tôi - từ không đến có - thêm lần hư thực - thực - hư" (Cõi ). Và một sự thánh thiện khác lại bắt đầu đánh thức những tiềm lực mới như "đàn kiến kia - với bài ca  diệu kỳ - bài ca cuộc hành trình vòng quanh trái đất" (Kiến). Và hệ quy chiếu hồi sinh cũng lại nảy mầm:

như suối nguồn thơm thảo

miên man

hết tháng cùng năm

hạt thánh

nảy nở muôn loài

          
như bừng bừng của lửa

làm nóng ran tế bào ngủ quên

rực rỡ trên đỉnh hoan lạc

uyển chuyển

vầng trăng cong

(Sự thánh thiện)

Trong thơ Hoàng Vũ Thuật câu chữ thường lưu vong trong thế giới siêu thực để hư vô hóa những hệ lụy và bất ổn của cuộc sống hiện tại. Và sau miền hư vô hoang tưởng ấy nhà thơ phải thốt lên"a men - a di đà - tôi giật lùi và chắp tay lên ngực" để sau đó chính mình lại được hiện hữu trong một vũ trụ tinh thần khác đầy tin yêu hoan lạc: "anh ngược con đường - để trở về con đường khác". Ở đó ngày đêm vần vũ theo nhau chống chọi với cô đơn và tật nguyền để hiện về gương mặt đồng trinh thanh khiết:

từng ngày từng ngày từng ngày

từng đêm từng đêm từng đêm

cây khô lại mướt sao tàn lại hiện

       (Năm ngày đêm)

Và một khát khao mới lại bắt đầu:

tôi bay khỏi hành tinh đến hành tinh khác

em vẫn đợi nơi ngõ nhà trái đất

tôi đứng một mình cây cột đèn

đêm đêm hắt bóng loài người đi qua

tôi bay giữa muôn chiều giãn nở phập phồng

cõi phù sinh

ẩn hiện biến tan trong bóng tối

                                                      (Khát)

Bài thơ Lăng tẩm là một tương hợp một đúc kết mang tính khái quát vĩnh cửu về trầm luân kiếp người không phân biệt đẳng cấp hư vô hóa mọi thực thể:

nằm dưới kia

một ông vua một hoàng hậu một người hầu

một thanh gươm một tuấn mã một mê nón

một lệnh truyền một trống giục một lời van


          nằm dưới kia

một hộp sọ một ống xương chân một đốt lóng tay

một trung thực một đớn hèn một điên loạn

một ngọn lửa một đêm tối một chiều tà

một vận hạn một thức thời một nguyền rủa


          nằm dưới kia

tất cả dưới kia

không tan chảy không đông đặc không biến hóa

không lắng xuống không đầy lên

hợp duềnh bể máu

(Lăng tẩm)

Thế giới màu trong thơ Hoàng Vũ Thuật hầu như bị khúc xạ và hóa thành những ảo giác những  nghi vấn: "tôi quay sang trái - đen và đen và đen - tôi quay sang phải - đen và đen và đen" (Màu). Cuối cùng khát vọng của con người vẫn là ước mơ vào những điều hằng cửu như "giá đỡ những trang sách mở ra số phận - cay đắng hạnh phúc" để mãi mãi niềm mong đợi thành huyền khải ban đầu bởi vì: "thế giới tồn tại nhờ cứu rỗi - thế giới tồn tại nhờ tử tế" (Tử tế). Vậy tại sao con người không hy vọng và  mong đợi vào "tính bổn thiện" của con người?

trên đồng cỏ mượt mà loài dế nỉ non bài hát

tuổi thơ

về một thế giới xanh bất tận

trên cát bỏng xương rồng khô khan

tua tủa gai nhọn

chọc thủng trời sâu

trên sóng bạc đầu truyền kiếp hải âu sải cánh

dệt miền huyền thủy

trên mây tím thổn thức ngàn năm trôi dạt

không chốn nương thân

trên dư vị hoàng hôn đánh thức chán chường

cây lá dưới nắng và gió

anh đợi

(Anh đợi)

Anh đợi như cây thánh giá thay đồng hồ điểm giờ cho tháng năm dích dắc trên miền đất hoan cảm. Sự phục sinh trở nên kỳ diệu làm sao qua khát khao tương ngộ giữa con người và vũ trụ: "hãy đến cùng tôi hoa ơi - hãy đến - tôi mở tung cánh cửa ngực mình - trái tim tôi - chiếc bình không vỡ - sẽ là nơi cắm xuống mối tình" (Hoa ơi hãy đến).  Ở đó những giọt đắng sẽ nâng bước ta đi: "ta đi hay đời đi - những bước chân khởi thủy - những bước chân hoang tàn - những bước chân hiện hữu" (Đắng). Dù có "phô bày trước ánh sáng - khỏa thân đêm tân hôn" thì cũng chỉ có đêm mới xóa đi tất cả. Và khi ấy bóng tối trở thành màu cứu rỗi cho những tâm hồn nguội lạnh cho những hồi sinh bắt đầu quên - nhớ từ những mảnh vỡ hư vô và hiện hữu. Cứ thế thơ Hoàng Vũ Thuật vẫn đang trên hành trình về phía da diết bản thể người. Với thơ Hoàng Vũ Thuật mãi còn làm người nô lệ khuân vác chữ nghĩa đi trong hoàng hôn buồn bã bình minh vui không phải chỉ cho mình mà chính là cho thi ca.

Hai tập thơ một hành trình nghệ thuật chưa kết thúc Hoàng Vũ Thuật đã vắt kiệt tâm hồn mình để đi và đến để nhớ và quên để yêu và giận để  buồn và vui. Sau những câu thơ rướm máu là những giọt nghĩ đứt nối trong đêm không phải chỉ cho mình mà chính là cho những điều hằng cửu của cuộc sống và thi ca. Thế giới màu trong ngôi nhà cỏ của Hoàng Vũ Thuật lung linh mỗi sáng mà ở đó luôn có sự giao động giữa ánh sáng và bóng tối giữa ngày và đêm giữa hiện hữu và hư vô giữa hiện thực và siêu thực giữa thất vọng và hy vọng. Nhiều bài thơ hay nhiều câu thơ tài hoa nhiều cấu trúc nghệ thuật mới mẻ đã làm nên tính hiện đại trong thơ Hoàng Vũ Thuật nhưng rất tiếc trong bài viết ngắn này chúng tôi chưa thể thao tác để giải mã nghệ thuật cấu trúc của từng bài thơ được. Thế giới tương hợp trong thơ Hoàng Vũ Thuật vẫn đang vẫy gọi sự đồng vọng của những độc giả đồng sáng tạo.

Vỹ Dạ tháng 8 năm 2010

H.T.H

--------

•(1)     Nhà văn Việt Nam hiện đại NXB Hội nhà văn tr. 289

•(2)     Nguyễn Đức Tùng Thơ đến từ đâu NXB Lao động 2009 tr. 436

•(3)     Nguyễn Đức Tùng Sđd tr. 428-429

More...

GHI CHÉP THÁNG MƯỜI MƯA BÃO

By Chủ bút: Hoàng Vũ Thuật

 

H

Hoàng Vũ Thuật

ghi chép tháng mười mưa bão


những cánh tay chọc thủng gạch ngói

những chiếc nón vẫy mưa

những tiếng kêu đứt đoạn

những hốc mắt đói nhìn


mỏi mòn đêm tối

kiệt quệ rạng ngày

mê ngủ tin dự báo thời tiết

cửa lòng hồ đóng mở bấp bênh


mẹ thắp hương chờ

những đứa con không trở lại

những đứa con khát sữa gào lên khuya khoắt

sạp giường lạnh tanh

đôi vòng tay trơ rỗng

áo em Phạm Đức Diện ướt rồi khô

hành khách chồng chềnh chuyến xe thổ mộ


sách vở trộn bùn đất

rơm rạ trộn thây người


     năm nghìn ba trăm con lợn trại chăn nuôi

tung tẩy đôi tai nhìn tám nghìn đồng loài trôi ra biển

bảy trăm chú lợn con chào đời

loăng quăng run rẩy

đàn bê gọi chiều đi chưa về


đường tới động Thiên Đường gãy gập ngang lưng

mây tìm nơi trú ẩn

rừng cao su rạp theo gió cuốn điệp khúc bi ai

hai mươi vạn ngôi nhà nhô lưng rùa

lặn ngụp

nước ngự trị trong thung lũng chết

mênh mông Kiến Giang Thạch Hãn sông Gianh sông La

khóc vì thiếu nước


sao lá cứ hồn nhiên đắp dày nấm mồ

buốt dọc mé rừng

sao đá cứ ngả mặt chai lỳ bên thác

âm âm u u

sao lửa cứ đỏ vô tư sau rặng tre nhức nhói

sao cỏ cứ mọc xanh chót đỉnh U Bò


bao giờ

bao giờ

miền trung ơi


Đồng Hới tháng10-2010

More...

CHIẾC GHẾ BỎ TRỐNG-CUỐNG RỐN

By Chủ bút: Hoàng Vũ Thuật

 

Hoàng Vũ Thuật


            chiếc ghế bỏ trống

                                        Nhớ nhà viết kịch Phan Xuân Hải

          

                     tấm thảm mùa hè trải bên cát mặn

                     khoanh từng ô

                     anh thường tới đây cạnh con lăn xi măng trườn ra biển

                     trong tiếng rú tăng tốc bụi mù chở theo đủ loại

                     nhọc nhằn

                     đôi mắt đen láy sau cốc rượu vang


            
         vắng người năm trước

                     đàn chim bay qua rớt xuống tiếng kêu thảng thốt

                     giữa những gương mặt huyên náo

                     lá dương bắn ngàn mũi tên về phía anh ngồi

                     đã trống một chiếc ghế


           
          thế gian này sẽ còn trống nhiều chiếc ghế

                     lại thừa hàng trăm chiếc ghế khác

                     sóng cứ ầm ào cuốn mãi lên bờ

                     lắm thứ người ta không dùng nữa

                     anh lượm và đóng gói

                     hy vọng sẽ được việc


           
          rác rưởi sóng sánh vô số kỷ niệm

                     ở đó anh đọc được bao trang sách

                     tục tĩu và thánh thiện đắm say và chán chường

                     như cốc rượu vang đen láy

                     trôi xuống cổ họng


            
         rồi nắng tắt 

            
         nặng trĩu đêm dày

                     sóng bận rộn cuộc tình muôn thuở

                     ngôi sao vụt sáng nỗi thèm khát

                     anh nghe cuộc đời cựa quậy

                     chỗ chiếc ghế bỏ trống

                     Biển Nhật Lệ 16 / 7 / 2010


                   cuống rốn

                                     Tặng Nhà thơ -Hoạ sĩ Văn Thao

                    cuống rốn khô sắp rụng

                    anh thu mình ốc đảo


                   
ngày ngày mặt trời ló mắt sương

                    hoảng hốt nhìn xuống cánh rừng

                    cây mọc lông dọc suối mơ

                    hoa tua tua gai nhọn

                    bùng cháy những đốm lửa quả chín khuya khoắt

                    lá chùng giọt đàn nước mắt


                   
đong đếm đong đếm đong đếm

                    chút khí thở nhặt nơi ngả đường dốc đứng

                    gia sản duy nhất cuối cùng

                    nửa tươi nửa héo nửa đỏ nửa đen

                    nửa sống nửa chết


                   
chó vẫn sủa vang phía bên kia trời

                    làm rách trang sách trên tay

                    dai dẳng hơn tiếng rít thuốc lào đơn chiếc

                    khói trắng dã gương mặt thế hệ dối lừa

                    họ không là họ


                   
bước chân gõ cầu thang

                    cất lên

                    nhịp lẻ

                    anh biết anh đang tồn tại

                    giữa ống tre ống trúc bức sạp gỗ cái tủ chè róc rách nước đổ

                    quang quác ba chú ngỗng tìm về sau ngày rong chơi

                    đàn gà núi chen nhau vào chuồng tìm chỗ ngủ


                   
một con chim nữa trong chiếc lồng bỏ quên

                    bên những chiếc lồng rụng rốn

                Kỳ Sơn Trại 9 / 8 / 2010

More...

VẬN MỆNH THƠ NHƯ CON NGƯỜI

By Chủ bút: Hoàng Vũ Thuật

 

Hoàng Vũ Thuật


          
VẬN MỆNH THƠ NHƯ CON NGƯỜI


     
Giai thoại về Đệ nhất Tổ phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông (1258-1308) giảng thiền trả lời và giải thích cho các môn đệ Phật Pháp Tăng đã được ghi lại trong sách Phật. Nhà thơ Bằng Việt mượn lời Phật viết:

              Bảy trăm năm sau tôi hành hương lên Yên Tử

              Đêm- nằm mơ thấy Phật

              Nhớ lại chuyện xưa bèn hỏi: "Bạch thầy việc đời thế nào là đúng?"

              Người ngậm ngùi: "Chấp theo lối cũ là không đúng!"

              Lại hỏi: "Thế nào là hạnh phúc trần ai?"

              Người bật cười to: "Chấp theo lối cũ là không đúng!"

              Hỏi tiếp: "Vậy thế nào là thơ?"

              Người lại phủi tay: "Chấp theo lối cũ là không đúng!"

                                                    ( Đệ nhất Tổ phái Trúc Lâm giảng thiền )

       Tôi không bàn chuyện phận đời phận người trong bài thơ này dù ý tưởng ấy xuyên suốt bao trùm toàn bài. Tôi muốn nói đến phận thơ mà Bằng Việt gửi gắm: Chấp theo lối cũ là không đúng.

       Số phận thơ Việt Nam chúng ta quá thăng trầm. Thơ luôn đi trên con đường đầy chông gai thử thách. Các thế hệ nhà thơ luôn tự đặt câu hỏi viết như thế nào để sinh mệnh bài thơ đích thực nghĩa là nó sống cho chính nó. Đứa con tinh thần của nhà thơ ra đời sẽ không bị chết yểu.

       Căn bệnh không rõ nguyên nhân đã thành sức mạnh bao trùm lên cả người đọc lẫn nhà biên tập lâu ngày như một món ăn quen thuộc nhàm chán.

       Điều kì diệu là bảy trăm năm trước một vị vua anh minh thông tuệ bậc nhất triều Trần hai lần lãnh đạo quân và dân ta đánh thắng đế quốc Nguyên-Mông rời ngai vàng đi tu luôn ý thức mọi việc trên đời không thể chấp theo lối cũ. Nhân tố sáng tạo bao giờ cũng mang đến cho người ta một thế giới mới mẻ tươi sáng. Thơ ca nghệ thuật không thể nằm ngoài chân lý ấy.Thế nhưng sau bao năm đổi mới nền thơ Việt dường như vẫn quằn quã trong cái ngôi làng lặng yên. Chúng ta không thể đổ lỗi hết cho chiến tranh không thể đổ lỗi vì thời kì quá độ mà phải tự nhận ra chúng ta tự trói lấy chúng ta bảo thủ tự bằng lòng thoả mãn với những gì có được.

        Các chuẩn tắc ngôn ngữ tiếng Việt và chuẩn tắc thơ ca bấy lâu nó đã mặc định trong tiềm thức người viết. Sự làm mới và thay đổi nó không phải bằng bắt chước về mặt hình thức mà phải từ nhận thức. Lịch sử xã hội và lịch sử văn học nước ta trong một thời gian dài đã sinh ra một thứ khuôn mẫu cả cho xã hội cả cho thơ ca. Thơ tô son làm đẹp một cách khiên cưỡng với những ngôn từ rỗng sáo đã như thứ hàng quen dùng thứ áo quen mặc nghĩa là cứ theo lối cũ mà đi. Thay đổi nó ư? Đâu dễ dàng. Việc nhận thức lại như Bằng Việt đã khó huống gì bằng việc viết bài thơ ra trên giấy trắng mực đen.

   

        Khlebnikop từng tuyên bố một chữ in sai đôi khi là một nghệ sĩ tài danh. Do thiếu hiểu biết những kiệt tác nhân loại bị đập phá tay chân làm cho đời sau không thể phục chế những phần mất đi của tác phẩm. Các nhà điêu khắc thời nay đã chăm chú điều ấy sản sinh ra những tác phẩm không hoàn chỉnh từ đó một thứ đề dụ nghệ thuật ra đời.

        Làm thế nào buông lỏng các chuẩn tắc thơ nghĩa là tự giải phóng mình thoát khỏi những ràng buộc vô hình như một sức mạnh ngự trị bấy lâu. Biên độ để tách bài thơ thoát khỏi chính nó là vô cùng. Trên vai ngôn ngữ nhà thơ có thể nhân danh nhiều khuynh hướng khác nhau nhân danh một khác biệt một trật tự mới cho thơ ca.

        Có thể có người mệt mỏi khi đọc những câu thơ sau đây của Trần Tuấn một nhà thơ trẻ sinh năm 1967 trong Ma thuật ngón(1):

                            kiếp trước của lửa hát về kiếp trước của tàn tro

                            lửa của tàn tro hát về tàn tro của lửa

                            phải mất đi bao nhiêu ngón

                            phải thêm bao nhiêu ngón

                            mới đủ một bàn tay

         Nhưng tôi yêu nó nhìn thấy phía sau ngôn từ kia một thông điệp phải tìm cách giải mã cho bằng được. Quả thực cái giá tàn tro lửa phải đổi phải trả trong cuộc mưu sinh này quá đau thương. Bao nhiêu ngón tay phải mất đi bao nhiêu ngón tay phải thêm vào mới đủ một bàn tay. Trần Tuấn không vin vào sự thật không vin vào hiện thực một cách thô thiển anh thả lỏng cảm xúc của mình như cái bóng siêu hình đi theo trường liên tưởng nhiều chiều. Người tiếp nhận thơ anh được tự do lựa chọn tuỳ thuộc tâm trạng của mình. Cái ranh giới giữa thơ và hiện thực đời sống đã biến mất. Bài thơ trở thành nhật kí của lữ trình cảm xúc chứ không phải là nhật kí đời sống mà bấy lâu thơ ca miêu tả thường làm. Không phải lúc nào nhà thơ cũng nhân danh hiện thực một cách cứng nhắc. Jakobson rất hóm hỉnh khi khẳng định: " thơ ca cũng là một sự dối trá và nếu nhà thơ không sẵn sàng nói dối - nói dối từ cái đầu tiên mà không ngại ngùng thì anh ta chẳng đáng gì cả "(2).

          Chớ coi nhẹ những hiện tượng không bình thường trong thơ ca. Sự tương phản dị biệt phản biện nhiều khi làm mầm móng cho cái mới hình thành. Nhận thức thuộc quyền của mỗi người nhưng nhận thức tới lúc nào đó sẽ gặp nhau. Một bức tranh một bản nhạc khi ra đời thông thường phải lãnh đủ mọi thứ nghiệt ngã. Nhưng giá trị đích thực của nó bao giờ cũng là nơi gặp gỡ của số đông.

       Làm sao mỗi nhà thơ trở thành một vương quốc trong việc sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong tay nhà thơ trở nên ma thuật có thể dẫn dụ độc giả đến những bến bờ lạ của cảm xúc tạo ra một thế giới tinh thần mới mẻ. Muốn vậy tôn trọng tự do sáng tạo chưa đủ mà phải tìm đất cho sản phẩm của họ được công bố. Vì sao trong nước ta hình hành các nhóm thơ Mở miệng Ngựa Trời Thơ xuất bản bằng giấy vụn Thơ photocopi. Tại vì sản phẩm của họ không được các tờ báo chính thống dùng cho rằng thơ chữ nghĩa rối rắm thơ bí hiểm thơ ngoa ngôn. Tôi đã đọc ít nhiều của họ bên cạnh cái được cũng có cái chưa được. Nhưng tôi khẳng định rằng đó là một việc làm nghiêm túc khi không có điều kiện in ấn xuất bản. Và tên tuổi các nhà thơ ấy vẫn được neo vào độc giả trong và ngoài nước như các nhà thơ khác.

        Vận mệnh thơ như vận mệnh con người. Từ chối tự do sáng tạo như từ chối một con người. Còn gì đau đớn hơn khi tác phẩm nghệ thuật của họ bị chối bỏ? Tất nhiên thơ ca vốn không dung nạp sản phẩm trá hình nó không phải là nó.

         Ít nhất đã ba lần tôi gọi điện trực tiếp cho Tổng biên tập Báo Văn Nghệ cùng trao đổi làm sao nâng cao hơn về chất lượng thơ trên báo. Bạn đọc trong và ngoài nước đang đọc Báo Văn Nghệ với niềm tin xem đấy là gương mặt văn học nước nhà. Thơ trên báo nhiều số chưa làm được điều đó khi người biên tập chọn những sản phẩm không xứng đáng những sản phẩm dùng làm minh hoạ gượng ép. Mọi hình thức thơ phải được tôn trọng mọi đề tài phải được nâng niu nhưng nhất quyết phải là thơ hay. Sự tiếp nhận của bạn đọc cho dù chưa quen thậm chí không thích nhưng lâu dần sẽ tìm được đồng cảm nếu bài thơ có giá trị. Chúng ta đều biết mọi cuộc cách tân thơ ca không dễ dàng gì. Nếu các báo chí thời Thơ Mới đều tẩy chay thì phong trào Thơ Mới thật sự khó ra đời.

       Ngôn ngữ thơ vốn đa dạng muôn hình vạn trạng. Trong tay nhà thơ có thể làm tăng thêm hiệu lực ngữ nghĩa tăng thêm sự biệt lệ làm phong phú hình thức câu thơ. Vần luật xưa nay như một công cụ bất biến của bài thơ. Nhưng vần luật cũng tồn tại như một hệ thống nằm ngoài ngôn ngữ ở những bài thơ không theo thể thức truyền thống. Các nhà biên tập phần thì e ngại độc giả chưa hợp khẩu vị phần thì bị trăm thứ khác chi phối. Độc giả bây giờ khác trước rất nhiều bởi trình độ và khả năng thưởng thức ngày càng cao khi mà các kênh truyền thông như cơn lốc tràn vào đời sống.

        Sự sinh lợi của thơ ca luôn ở từ hai phía người làm ra nó và người thưởng thức. Để một nền thơ phát triển đất đai cho nó phải được mở rộng dung nạp nhiều thể loại xu hướng và khuynh hướng. Chúng ta không thể xem nhẹ hoặc khước từ mọi sự thể nghiệm. Công việc nghiên cứu thơ ca phải như công việc nghiên cứu khoa học vậy phải chấp nhận cách thức và thủ pháp nghệ thuật. Thơ ca trong một nghĩa nào đó đồng nhất với tôn giáo thế giới thần linh của con người. Thơ ca có sức mạnh trực tiếp đồng thời có sức mạnh làm mê dụ tinh thần con người nó là tiếng đàn vô âm không phải lúc nào cũng dễ dàng nghe thấy.

        Thơ Việt Nam ngày nay đã khác trước rất nhiều không phải lúc nào cũng đối ẩm có khi va đập như sóng lại có khi như đá tảng trơ ra cùng mưa gió bão bùng.

        Thơ đương đại Việt Nam sẽ già đi nếu không có những Trần Tuấn Vi Thùy Linh Văn Cầm Hải Lê Vĩnh Tài Đinh Thị Như Thuý Nguyễn Hữu Hồng Minh Ly Hoàng Ly...Họ ra đời trong sự bầm dập không lúc nào được suôn sẻ. Nhưng các nhà thơ trẻ ấy đã mang được linh hồn Việt Nam thời nay đã mở rộng đường biên thi ca ra với thế giới. Các nhà thơ trẻ không chỉ mang bức thông điệp cho thế hệ mà còn thể hiện nhu cầu thời đại của dân tộc. Thơ ca phải thay đổi chấp theo lối cũ là không đúng.

                                                                                                                                      Đồng Hới 8 / 5 / 2010

                                                                                                                                                                                
HVT

 

________

 

(1) Thi hoc và ngữ học ( Lý luận văn học phương Tây hiện đai) NXB Văn học 2008.

(2) Tập thơ NXB Hội Nhà văn 2008. Giải thưởng Thơ Bách Việt lần thứ Nhất.

More...

RỪNG HỌA SĨ NGHIỆM ẢNH CỦA DUNG

By Chủ bút: Hoàng Vũ Thuật

 

Hoàng Vũ Thuật


     rừng

                                    

                                   Rừng đã cháy và rừng đã khép

                                                      TRỊNH CÔNG SƠN

          mịt mờ quầng lửa

          trơ trọi trời cao  

          sỏi đá bơ vơ lạc loài


         
những chiếc lá bốc hơi  

          những chiếc lá dị dạng

          những chiếc lá vuốt mặt không kịp cất tiếng


         
tối tối nước mắt muôn sao đặc sệt

          gió cuồng trong tấm chăn vô chủ

          hoang hoải trắng và đen


         
khô rang

          ngày tháng


         
17 / 4 / 2010


 

            hoạ sĩ

        

            xoá đi rồi vẽ lại

            nghẹt thở


           
thêm một nét gầy thêm một nét

            chết lặng dưới chân cầu thang


           
nàng khóc

           

             17 / 4 / 2010

         

        

            nghiệm
                                                                                                     

            mấy vạn cánh chim đến được phương ấy

            khoảng cách ngày và đêm

            đủ nhận biết vũ trụ


           
mấy vạn bước chân đến được miền ấy

            khoảng cách tối và sáng

            đủ nhận biết thế giới


           
mấy vạn lời nguyền đến được chốn ấy

            khoảng cách bão tố và bình yên

            đủ nhận biết nhân gian


           
mấy vạn hơi thở đến được cõi ấy

            khoảng cách yêu và giận

            đủ nhận biết mình


          
23 / 4 / 2010

           

           


              

      ảnh của dung


            
anh nhìn thấy con gấu bông bò ra ngoài túi

             bàn chân cong cong cầu thê húc

             đôi mắt miếu thờ


            
anh nhìn thấy chấm ruồi dưới vành môi niệm khúc thánh mẫu

             những viên gạch vuông vức áo mỏng mở rộng hiên chùa

             gọng kính trắng trên đầu vương miện thần tình ái


            
cỏ xanh mặt hồ cây xanh trời rộng

             anh nhìn thấy đàn cá nuốt bóng dung căng phồng

             đang bơi qua mái ngói cổ


 
            sau lưng chiếc mũ sáng

             vầng trăng ngọc hà

             và đế guốc xoay vũ điệu nghìn năm


           
 
Giỗ Tổ Hùng Vương 2010

             

More...

KIẾN - VỀ

By Chủ bút: Hoàng Vũ Thuật

 

Hoàng Vũ Thuật


kiến


lầm lũi
hồn nhiên
bé xíu
ngỡ chưa bao giờ góp mặt

chiếc râu cong lên gặp nhau
nói gì không biết

khác biệt đến nổi chẳng thương xót bận tâm

dưới lửa
dưới chân người
dưới cỏ

đường nối đường xuyên đất xuyên cây
xuyên thác đổ
xuyên đá
xuyên cát
trên giường trên ghế trên mái nhà

đàn kiến theo nhau vội vã
sống và chết
nhẹ nhàng
hạt bụi


hãy tin
đàn kiến kia
với bài ca diệu kỳ
bài ca cuộc hành trình vòng quanh trái đất

vang lên
không mệt mỏi
những trái tim mang nỗi niềm
loài kiến



v ề

gió vặn hàng cây nghiêng ngả
vết cắt ứa nhựa trên mi
màu da sáng
màu đất
còn đôi mắt anh nhận ra em

nhìn thấy chuỗi ngày đang tới
lê thê lũ kiến chuyển mùa
và ta nữa
khác gì đàn kiến
dưới tán cỏ khổng lồ tức tưởi xanh

những lối mòn ra giêng sũng nước
cuồn cuộn dâng vô định vô hồi
cái phiên bản cuộc đời quen thuộc
về thôi em
khỏi ranh giới con người




More...

THƠ ĐÃ THẤT LẠC QUÁ LÂU

By Chủ bút: Hoàng Vũ Thuật

 

LỜI DẪN:

Như đã nói cuộc Hội thảo cuốn sách "Thơ đến từ đâu" do Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam và công ty TKK Concert  đồng tổ chức vào ngày 6/1/2010 tại Hà Nội tôi đã đọc bài tham luận dưới đây.  Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn bè và độc giả.


     
                                      
*


Hoàng Vũ Thuật


                    
        
THƠ ĐÃ THẤT LẠC QUÁ LÂU


      
Khoảng năm 1974 qua Trần Nhật Thu tôi đọc được một bài thơ của Hà Thúc Sinh nhà thơ sĩ quan quân đội Việt Nam cộng hoà. Tôi còn thuộc đến bây giờ và nay ghi lại theo trí nhớ có thể không hoàn toàn chính xác:


                           
Dằn li xuống chiếu cười gượng cười
                               
Ta biết rằng chưa ấm bụng ngươi

                               Bực thay bạn đến từ muôn dặm

                               Mà rượu không hề đủ say chơi 
 

                               Con ta chợt ré lên sau bếp

                               Nắng chiều  đổ  lửa xuống nhà tôn

                               Hà Thúc phu nhân coi buồn lắm

                               Sữa thiếu làm sao tiếp rượu chồng?


      
                         Bạn ta người của mùa chinh chiến

                               Quen thói ngang tàng thú tiêu pha

                               Kéo ta ra quán hề ra quán

                               Nhìn trời nhìn đất mà thương ta


      
                         
Trăng kia sao chẳng nằm dinh thự

                               Mà chỉ nằm chơi ở ngọn cây

                               Bạn ta nào hiểu niềm vui sướng

                               Đời ta chưa hề bẩn đôi tay.

                                    
( Uống rượu với bạn trên đường hành quân )


      
Có một niềm vui sướng nào đấy mà chắc gì mấy ai hiểu được trong con người Hà Thúc Sinh?
 

        Nhưng khi đọc bài thơ tôi đã nhìn thấy một tâm hồn trong trẻo nhân văn dù người đó đang cầm súng trên đường hành quân từ một phía của trận tuyến. Tôi cứ nghĩ một ngày nào đó tôi sẽ gặp chàng thi sĩ ấy và sẽ ôm nhau như những người bạn thân thiết xa lâu ngày.

 

                      Đời ta chưa hề bẩn đôi tay

       
       Câu thơ vừa tâm trạng vừa bày tỏ của một người trước cuộc đời đầy biến động phi lý. Nhưng tôi không may mắn vì ít năm sau nghe tin Hà Thúc Sinh đã mất.
 

Sự hiểu biết của tôi về văn học miền Nam không nhiều. Hồi đó tôi đã ngưỡng vọng thơ Du Tử Lê Thanh Tâm Tuyền Nguyên Sa Phạm Thiên Thư...văn của Vũ Hạnh Nguyễn Thị Hoàng Phan Nhật Nam... bởi cái khí chất tự do phóng khoáng trong bút pháp thể hiện. Những câu thơ của Du Tử Lê như: bàn tay năm ngón / tóc chảy nghìn hàng / không lẽ chúng mình thù oán ( Bàn Tay Sợi Tóc Cuộc Đời 1958 ) và: như que diêm trước sau gì cũng phải một lần bật sáng / cũng một lần anh thắp rực đời em (Khởi Đầu Một Kiếp 25-3-69 ); Hoặc của Nguyên Sa: Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông (Áo Lụa Hà Đông )... đã cho tôi cái nhìn tin yêu về thơ và người làm ra nó.

       

       Thật thú vị trong một lần trả lời thư tôi từ tiểu bang Cali nhà thơ Du Tử Lê đã thông tin ngay rằng Hà Thúc Sinh vẫn còn sống hiện đã dọn nhà đi nơi khác và nếu về Việt Nam lần tới tôi mong sẽ được ôm anh như anh từng ước ao ôm anh Hà Thúc Sinh vậy. Thế là chưa gặp nhau chúng tôi  thành người thân thiết.

 

        Khi Nguyễn Đức Tùng mail những câu hỏi đầu tiên xung quanh chuyện Thơ đến từ đâu anh nói rất thực trong thư riêng gửi cho tôi:"Cám ơn anh Du Tử Lê đã cho địa chỉ và dặn gửi thư. Em có một bà chị ruột khi nào về Việt Nam chưa kịp ngồi xuống ăn cơm thì bà ấy đã nhét cái phone và bấm số sẵn. Có ba bốn ông anh họ ở xa nên bà chị muốn chắc chắn là anh em giữ liên lạc với nhau không thì "quên nhau mất". Anh Lê giống như chị của em ở nhà vậy". Nhà thơ Du Tử Lê đã nối Nguyễn Đức Tùng và tôi lại với nhau khi giữa chúng tôi chưa thật sự quen biết. Dù Nguyễn Đức Tùng đọc tôi đã lâu không nhiều nhưng rất thích. Và tôi cũng đọc anh cả thơ và phê bình văn học trong đó có lần ở loạt bài "Đọc một bài thơ như thế nào" anh đã dẫn thơ tôi khi nói về hình ảnh không những mang lại cảm giác vật lý cụ thể mà còn gây ra những thay đổi về giọng điệu của bài thơ.

 

       Thế là tôi như người ma ra tông trước câu hỏi của anh khi thì thư thả khi vội vã khi như đang bên nhau trò chuyện trong khuya khoắt yên tĩnh khi gây hấn tranh cãi thách đố. Cuộc đối thoại giữa chừng khiến tôi chạy từ Sài Gòn ra lại Đồng Hới để tiếp tục công việc. Đã có lúc mệt mỏi vì có nhiều chuyện tôi không muốn nói ra làm gì nữa. Nhưng dần dần như một ma lực cuốn hút không thế thoát và tôi cảm thấy hứng thú thật sự cốt sao tìm đến cái đích mà bao đời nay con người muốn tới. Thơ đến từ đâu làm thơ để làm gì viết thơ cho ai đây nếu không có thơ thì cuộc đời này sẽ ra sao...?

 

       Điều gì đã đưa đến sự gặp gỡ giữa nhà thơ Du Tử Lê Hà Thúc Sinh và tiếp đến là Nguyễn Đức Tùng? Trong khi chúng tôi chưa một lần gặp chưa nghe tiếng nhau qua điện thoại. Câu trả lời có lẽ duy nhất đó là thơ. Thơ chính là sự kết nối ràng rịt tất cả lòng người Việt Nam lại với nhau cho dù tận chân trời góc bể nào xa xôi hẻo lánh nơi đâu chăng nữa.

 

       Nếu trả lời câu phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng thêm một lần nữa tôi sẽ nhắc lại  lần nữa dù rất cũ rích loài người đã nói ngàn năm trước rằng thơ đến từ lòng người.

 

       Bởi khi tôi chưa gặp các nhà thơ tôi đã đọc họ ở đấy tôi gặp được họ tôi thấy họ rất rõ. Những trái tim văn học sẵn sàng mở rộng cửa và dung chứa nhau sau những tháng ngày thất lạc cũng trong một thư khác sau này Du Tử Lê đã nói như thế.

 

       Văn học Việt Nam nói chung thơ Việt Nam nói riêng đã thất lạc quá lâu đã xa nhau quá dài đã chối từ nhau như những kẻ đối nghịch. Điều ấy như tay chối bỏ chân như răng chối bỏ miệng nó trở nên bi hài trớ trêu.

 

       Không gì có thể phủ nhận vùi dập văn hoá văn học nghệ thuật. Nền văn học Việt Nam đích thực tựu trung phải hội tụ đủ cả mọi miền Nam Bắc trong nước hải ngoại không phân biệt chính kiến chính trị tôn giáo tín ngưỡng sắc tộc. Văn hoá là tinh hoa tinh tuý phản ánh đúng bản chất lịch sử xã hội thể hiện khát vọng muôn thuở của con người. Văn hoá cao hơn tất cả nằm ngoài dòng chảy quy định của xã hội. Văn hoá văn học nghệ thuật phi biên giới.

 

       Bởi vậy Thơ Đến Từ Đâu là một cuốn sách đồng thời là một thang thuốc đầu tiên ràng rịt vết thương văn hoá Việt Nam sau hàng chục năm thương tổn. Thang thuốc ấy có thể còn thiếu những vị thuốc cần có người kê đơn và người bốc thuốc có thể chưa thật thoả mãn nhưng vẫn là thang thuốc quý kịp thời cho người bệnh.

 

       Và tôi không thể không nói lời cám ơn Nguyễn Đức Tùng cũng như các nhà thơ khác có mặt trong tập sách và những người tôi quen biết hay chưa quen biết hạnh ngộ ở đây lúc này trong tiếng vọng muôn thuở thơ đến từ đâu.

                                                                                                                                                                                                                            

                                                                    Mùa Giáng Sinh 2009

 

More...

CÔ ĐƠN THUỘC PHẠM TRÙ CÁI ĐẸP (3)

By Chủ bút: Hoàng Vũ Thuật

 

Lời dẫn:

THƠ ĐẾN TỪ ĐÂU của Nguyễn đức Tùng nhà thơ nhà phê bình văn học hiện  định cư tại Canađa; gồm 22 bài phỏng vấn của 24 nhà thơ trong và ngoài nước và 2 bài cảm nhận của nhà văn Tạ Duy Anh Nguyễn Thị Trường do NXB Lao Động ấn hành tháng 10/2009 đang gây xôn xao dư luận. Ngày 6/1/2010 Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam và Công ty TKK Concert sẽ tổ chức Hội thảo tác phẩm THƠ ĐÊN TỪ ĐÂU tại Hà Nội. Nhân dịp này tôi chuyển đến các bạn cùng độc giả bài trả lời phỏng vấn (chia 3 kì) của tôi trong cuốn sách trên với lời chào trân trọng.

                                                                                                                                             Noel 2009

    CÔ ĐƠN THUỘC PHẠM TRÙ CÁI ĐẸP (3)

                       HOÀNG VŨ THUẬT

                            ***

Thực hiện: Nguyễn Đức Tùng

Nguyễn Đức Tùng:

      Trong thơ anh thấm đẫm tình yêu nồng nàn đối với quê hương. Được biết anh sinh ra ở Lệ Thuỷ và đang sống tại Đồng Hới Quảng Bình những địa danh nổi tiếng. Cát trắng biển xanh người đẹp đa tình chung thủy những không gian văn hoá đặc biệt. Thiên nhiên và con người ở đó đã ảnh hưởng đến thơ Hoàng Vũ Thuật ra sao? Ngày nay cái đẹp tinh thần ấy có còn chăng?

Hoàng Vũ Thuật:

       Làng tôi nằm giữa hai thế đất một bên những động cát trắng xóa chạy dài ra tận biển một bên phá Hạc Hải cái nghiên mực thiên nhiên nổi tiếng nơi phát tích câu ca "nhất Đồng Nai nhì hai huyện" (tức Lệ Thủy Quảng Ninh bây giờ). Phía tây nam là dải Trường Sơn hùng vĩ có ngọn Đầu Mâu nhọn như tháp bút. Chiều chiều lúc hoàng hôn xuống một cảnh tượng ngoạn mục xảy ra. Trong mờ ảo chập chờn bóng núi ngã xuống mặt phá ta có cảm giác ngọn bút Đầu Mâu chấm xuống nghiên mực Hạc Hải đang viết lên trời những dòng chữ mây bí ẩn. Tiếc thay hai mươi năm trở lại đây trong kế hoạch ngăn mặn người ta đã làm cho Hạc Hải không còn. Môi trường đầm phá biến mất cùng bao hải sản nước lợ như tôm cua rạm cá cùng với hàng chục loài chim trời hiếm quý. Biết làm sao khi những cái đầu không giống nhau thì còn sinh ra bao nỗi bi thương khác nữa.

       Quảng Ninh Lệ Thủy nơi sinh ra nhiều danh nhân nổi tiếng trong số đó Dương Văn An tác giả "Ô Châu cận lục" cuốn địa chí đầu tiên ở nước ta Nguyễn Hữu Cảnh một nhân vật kiệt xuất văn võ song toàn người mở cõi để có một Việt Nam như ngày nay. Rồi Hoàng Hối Khanh Hoàng Kế Viêm cùng bao nhân vật kiệt xuất khác. Ngày nay nhắc đến Võ Nguyên Giáp ta đã nghĩ ngay tới tên tuổi mười vị tướng thế giới. Đối lập với Võ Nguyên Giáp cách làng ông một con hói nhỏ là quê hương của ông Ngô Đình Diệm.

       Gia phả Hoàng tộc tôi gốc làng Thạch Xá huyện Thạch Thất Sơn Tây cũ có ghi: Thủy Tổ Hoàng Cai Sấu Linh Quan vâng mệnh Bổn triều Nam di chinh phạt. Sự bình chiếm đắc địa phận lập nên làng Thạch Xá bây giờ.

Nguyễn Đức Tùng:

       Anh đã từng là chủ tịch hội văn học nghệ thuật Quảng Bình. Theo anh ở đó hiện nay các nhà thơ nào là quan trọng nhất? Anh có mối quan hệ như thế nào đối với các nhà thơ ở địa phương? Nếu có thể xin cho tôi nghe một vài bài thơ của họ.

Hoàng Vũ Thuật:

      Quảng Bình quê hương các nhà thơ nổi tiếng thời Thơ Mới: Hàn Mặc Tử Lưu Trọng Lư và Nguyễn Xuân Sanh. Thời kháng chiến chống Pháp Xuân Hoàng Gia Ninh Nguyễn Anh Tài là đại biểu tiêu biểu hơn cả. Trước và sau những năm 70 một loạt các tác giả mới trở thành nồng cốt Trần Nhật Thu Đông Trình (miền Nam) Lâm Thị Mỹ Dạ Lê Thị Mây Hải Kỳ Nguyễn Khắc Thạch Nguyễn Văn Dinh Lê Xuân Đố Phi Tuyết Ba Ngô Minh Vĩnh Nguyên Trần Quang Đạo Đỗ Hoàng Lý Hoài Xuân Nguyễn Hữu Quý Mai Văn Hoan Thai Sắc Văn Lợi...Lớp nhà thơ này tản mác nhiều nơi trong nam ngoài bắc. Bút pháp hiện thực chi phối và đeo bám dai dẳng công việc sáng tạo của họ làm nên sự nổi tiếng một thời. Trong số này Lê Xuân Đố hiện sống ở Sài Gòn Trần Quang Đạo Phi Tuyết Ba và Nguyễn Hữu Quý ở Hà Nội Nguyễn Khắc Thạch Ngô Minh Vĩnh Nguyên ở Huế tìm cách vượt rào để thay đổi bút pháp quen thuộc.

Nguyễn Đức Tùng:

      Ví dụ?

Hoàng Vũ Thuật:

       Đọc những câu thơ: loài chó nồng nhiệt hơn hẳn chúng ta / trời phú đức tính trung thành / ta xúc động và nhiều khi tự ái (Thơ cho Bim-Lê Xuân Đố) bên thềm hoang / thiếu phụ / thoát y nằm / ngọn nến cháy / sau vầng trăng khuyết (Thiền-Nguyễn Khắc Thạch) cát trắng nhuộm màu bóng tối / cây như bóng người thiền dưới trời khuya (Khúc biến tấu xương rồng-Trần Quang Đạo) đã đào sâu vào âm bản các hiện tượng một kiểu tư duy lật ngược. Cái trật tự bấy lâu về đời sống tinh thần của con người nom ra quá cũ kỉ không còn phù hợp nữa. Tiếc rằng hiện tượng trên không trở thành phổ biến và không phải ai cũng chấp nhận.

Nguyễn Đức Tùng:

       Xin trở lại với thơ anh. Một dòng thơ giọng thơ thế sự.

                     Chân lý đường cong

                     Cái nhíu mày

                     Đủ cho người ta đi thụt lùi ra cửa

       Khuynh hướng này là một trong những khuynh hướng chính của thơ Hoàng Vũ Thuật bên cạnh thơ tình và thơ về quê hương đất nước.

       Trong thơ anh có sự giận dữ phẫn nộ của một công dân không?

Hoàng Vũ Thuật:

       Sao lại không? Nhà thơ là một công dân nói tiếng nói của công dân hiểu sâu sắc thân phận của công dân. Nguyễn Long trong bài "Thường dân" đúc kết rất chí lý:

                               Khi là cây mác cây chông

                       Khi thành biển cả khi không là gì

       Thay vì vác đơn đi kiện anh lấy thơ làm văn bản tư tưởng để đấu tranh vì lẽ công bằng chống lại cái ác kéo con người về phía thiện. Cứu rỗi thế giới là chức năng muôn thuở của thơ ca nghệ thuật.

       Văn-bản-thơ tôi đã nhiều lần trình bày: vụt qua chiếc xe đen nhoáng vầng trán / sắp nứt đôi vành tai sắp rớt / vụt qua gánh hàng rong đặc sệt mồ hôi / vụt qua tiếng rú điên dại và / giấc mơ khóa chặt / vụt qua cái nạng gỗ vang lên âm thanh / huyệt mộ / vụt qua chiếc xích lô bánh đặc lăn không biết mệt / vụt qua người dắt chó / như chó dăt người (Tháp).

       Nhưng sự phẫn nộ của thơ khác với biện pháp người đời.

       Kinh Thánh có câu: "Một nơi náu ẩn cao trong thì gian truân".

Nguyễn Đức Tùng:

       Ảnh hưởng của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đối với thơ và văn xuôi Việt Nam ngày nay ra sao?

Hoàng Vũ Thuật:

       Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa tạo nên rãnh tư duy một chiều bền lâu chưa thể xóa hết mặc dầu phương pháp đó chỉ tồn tại trong văn học sử hầu như không ai lấy đó để cổ súy công việc sáng tạo.

       Tuy vậy do yêu cầu của người biên tập để tuyên truyền cổ vũ một chủ đề nào đó thơ thời sự vẫn có chỗ đặt chân. Ở các tỉnh địa phương còn nặng nề hơn. Một số nhà thơ tìm cách dung hòa hai yếu tố làm một sản sinh ra thứ thơ đầu Ngô mình Sở.

       Trong thơ trữ tình thế sự vốn đã ẩn chứa thời cuộc thân phận gương mặt xã hội tức là đã có tính "thời sự". Sáng tạo nghiêng hẳn về thời sự sẽ làm cho bài thơ biến thành tư liệu thô thiển hiện thực đời sống vào thơ như một phép liệt kê. Đó cũng là nỗi buồn của thơ hiện nay.

Nguyễn Đức Tùng:

       Anh nghĩ gì về chủ nghĩa hậu hiện đại? Và thơ hậu hiện đại ở Việt Nam?

Hoàng Vũ Thuật:

       Thuật ngữ "Chủ nghĩa hậu hiện đại" còn mới mẻ với nhiều người cầm bút Việt Nam. Đầu năm 2008 tôi được đọc cuốn "Hoàn cảnh hậu hiện đại" của Jean-Francois Lyotard do Ngân Xuyên dịch. Sau đó một số bài bàn tới vấn đề này trên Talawas và Tiền Vệ kể cả cuộc tranh luận giữa hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Hoàng Ngọc Tuấn cũng chưa thể giúp tôi hiểu sâu hơn các tư tưởng triết học và phê bình lí luận tiên tiến của thế giới ứng dụng cho văn học Việt Nam. Sự chuyển biến từ hiện đại sang hậu hiện đại làm xuất hiện một tâm thức mới trên nhiều mặt đời sống chứ không riêng gì văn chương nghệ thuật. Nhưng tôi hiểu rằng đó là một cuộc cách tân khai phóng kiến tạo những hình thức mới đa dạng không ngừng thay đổi trước guồng quay khách quan của xã hội.

       Từ thực tế tôi nghĩ thơ hậu hiện đại ở Việt Nam chưa thể nhập cuộc thành trào lưu sáng tác. Một số nhà thơ quan tâm đến xu hướng này nhất là các nhà thơ trẻ nhưng ranh giới giữa hiện đại và hậu hiện đại chỉ dừng lại ở kĩ thuật chế tác ngôn ngữ vắt câu lạ hóa chữ nghĩa không tạo ra một tâm thức mới. Một số người còn diễu " chưa đậu ông nghè đã đe hàng tổng" đã đi hết hiện đại đâu mà đòi hậu hiện đại. Trong khi đó theo ông Hoàng Ngọc Tuấn thuật ngữ " hậu hiện đại" đã xuất hiện từ năm 1870 và thuật ngữ " chủ nghĩa hậu hiện đại" đã làm nhan đề cho một bài viết về tôn giáo có từ năm 1914.

Nguyễn Đức Tùng:

       Tôi nghĩ thế này: nếu anh sống hậu hiện đại thì anh viết hậu hiện đại nếu anh sống cổ điển thì viết cổ điển. Sống thơ như thế nào thì làm thơ như thế ấy. Đây là cuộc sống tâm linh là đời sống bên trong (inner life) anh ạ.

       Tôi thiết nghĩ: muốn đổi mới thơ thì phải đổi mới đời sống tinh thần của anh trước đã. Các nhà thơ có hạng đều biết rằng một lần tính toán khôn vặt một lần mất cơ hội về một bài thơ hay.

Hoàng Vũ Thuật:

       Đúng thế. Anh có thể đi xe đạp mặc áo màu nâu. Đó là phương tiện sở thích từng người. Nhưng đời sống bên trong đặc biệt nhận thức tư duy nó quyết định cho hành động việc làm của anh. Ngược lại anh đi bằng phương tiện hiện đại ăn mặc đúng mốt có khi suy nghĩ lại lỗi thời bảo thủ không làm được gì.

      Song viết còn là một quá trình đòi hỏi nhiều mặt nữa. Viết một sáng tạo nghệ thuật có khi tưởng đó là trời cho.

Nguyễn Đức Tùng:

       Trong thơ của bất cứ nhà thơ nào xưa nay cũng có những câu hay đứng xen kẽ những câu dở hoặc...vừa vừa.

                Những con thuyền thúng ngày mai lại trườn về biển cả

       Là một câu thật thà hơi vụng.

                Nụ hôn cầu vồng uốn cong trời đất

       Là một câu thơ bay bướm thậm chí hay nhưng lại ít thuyết phục.

                Anh úp mặt vào đời em

                Giấu một miền quê đằng đẵng

       Cảm động hơn nhưng vẫn không thoát được cái sáo. Hình như nó ngọt ngào quá chăng?

      Không vụng dại như:

               Và gương mặt hiền thục hiện về

               Mùa thu bỏ quên đôi guốc đỏ

       Thật ngộ nghĩnh nhưng thuyết phục.

               anh đã bước lên không mệt mỏi

               bằng đôi chân nối dài

       Giản dị bỏ qua tu từ văn xuôi mà vẫn đằm thắm mạnh mẽ. Đầy nhạc tính mới.

       Nhớ lần đầu khi đọc hai câu của anh tôi có phần hồi hộp:

               Một bông một bông thôi

               Giữa lạ lùng trời đất

       Như một bước nhảy con trẻ tới cái đẹp. Điệp ngữ thâm trầm. Và phân vân không biết anh sẽ viết tiếp như thế nào làm sao để ra khỏi cái luồng chảy tự nhiên- tất nhiên- số phận của nó?

       Quả nhiên anh viết:

               Như trái tim nhỏ nhoi

       Đọc đến đó thì đoán được anh phải kết thúc như thế nào.

       Có một vật gì đang ngáng chân anh chăng? Có lẽ là chữ "như" dễ dãi? Hay một cái gì sâu sắc hơn về thi pháp?

       Trong khi ở những bài khác câu khác Hoàng Vũ Thuật rất mê đắm rất khai phá thoát khỏi sức hút của trái đất.

               Trăng bồ liễu

               Trăng như cỗ quan tài thủy táng

       Hoang dại viết thẳng từ vô thức.

       Hay dữ dội u uất bàng bạc:

               một ngọn lửa một đêm tối một chiều tà

               một vận hạn một thức thời một nguyền rủa

       Tu từ dày đặc mà vẫn là một trong những câu hay nhất của thơ ca Việt Nam đương đại. Trên vai chúng tôi vui mừng nhận ra gương mặt thơ của Hoàng Vũ Thuật tài hoa lộng lẫy.

       Thưa anh anh quan niệm thế nào là thơ hay và thế nào là thơ dở?

Hoàng Vũ Thuật:

       Có những bài thơ hay nhưng không có câu thơ hay vì cấu trúc toàn bài là một hình tượng chỉnh thể bao quát thống soái. Ngược lại trong những bài thơ trung bình hoặc dở cũng có thể tìm được câu thơ hay. Trường hợp bài Những Con Thuyền Thúng được cấu trúc theo chỉnh thể các câu thơ đoạn thơ tương tác bổ trợ cho nhau theo tôi phải đọc nó trên chỉnh thể.

      Trong sáng tạo đôi khi có những vật ngáng chân như anh nói là khi cảm xúc chưa chín tới mà anh vội viết cho lấy được chắc chắn bài thơ sẽ rơi vào cái thế "đẻ non". Đúng lắm anh Nguyễn Đức Tùng ạ.

      Thơ hay như người đẹp ai cũng yêu. Thơ dở như kẻ gàn dở ai cũng muốn lánh.

Nguyễn Đức Tùng:

       Anh trông đợi điều gì ở nền thơ Việt Nam ở nền văn học Việt Nam hiện nay? Điều gì làm anh thất vọng? Điều gì làm anh lạc quan?

Hoàng Vũ Thuật:

       Phẩm tính dân tộc trong mỗi người bao giờ cũng mong muốn dân tộc mình rạng rỡ lên. Tôi cũng vậy tôi luôn mong sao nền văn học Việt Nam hội nhập được với văn học thế giới với niềm tự hào không hỗ thẹn chút nào. Tôi đã có một bài viết "Tự do sáng tạo và xu thế hội nhập" đăng trên Văn Nghệ Hội Nhà văn và Tiền Vệ bàn tới vấn đề này. Một số tác phẩm văn học những năm đổi mới của Ma Văn Kháng Bão Ninh Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Xuân Khánh Nguyễn Đình Chính Nguyễn Khắc Trường Dương Hướng Hoàng Minh Tường Bùi Ngọc Tấn...về văn xuôi của Bằng Việt Vũ Quần Phương Nguyễn Khoa Điềm Việt Phương Hoàng Hưng Thanh Thảo Hữu Thỉnh Nguyễn Quang Thiều Ý Nhi Nguyễn Trọng Tạo...về thơ cho tôi cái nhìn hi vọng.

       Nhưng tôi cho rằng đổi mới trong văn học nước ta chưa đi đến cùng. Tính trì trệ bảo thủ ở số đông nhà văn là lực cản chính họ. Tự do sáng tạo chưa thành dòng chảy cảm xúc trong mỗi người. Hình như cái dây ràng buộc "quan phương sáng tạo" một thời còn làm cho nhà văn dè dặt e ngại. Điều này tạo ra những khoảng trống trong nhận thức tư duy lí luận ắt sẽ làm nên khoảng trống trong văn học.

       Vậy khó đặt văn học Việt Nam lên mặt phẳng toàn cầu để lạc quan.

Nguyễn Đức Tùng:

       Những người quan tâm thực sự từ bên trong từ đáy lòng không thể lạc quan được về văn học Việt nam. Theo tôi sinh ra từ một lịch sử chia cắt hầu hết các nhà thơ Việt Nam đều tự mình giới hạn vào cái góc sân cô lập của mình một nhóm bạn bè riêng một vùng ngôn ngữ riêng và một chuẩn tắc văn hoá riêng của mình.

       Tuy nhiên cũng có những cố gắng nổi bật của một số nhà thơ và nhà phê bình hiện nay tìm cách thay đổi tình hình đúng không anh? Họ đang cần phải làm gì hơn thế nữa?

Hoàng Vũ Thuật:

       Có chứ các nhà thơ trẻ trên bước đường tìm kiếm họ đã phác cho mình một lối đi. Cho dù thành công và thất bại song hành nhưng thể hiện một nổ lực quả cảm. Một số nhà thơ thế hệ chúng tôi như đã nói cũng đang trăn trở lắng nghe tiếp cận cái mới để sản phẩm của mình không chững lại. Gần đây các nhà thơ tên tuổi dường như đã định vị cũng cho in những bài mới mà chất giọng khác trước nhiều. Hình thức câu thơ thay đổi nhịp vần cũng không cứng nhắc. Đấy cũng là một tín hiệu đáng mừng.

       Tôi yêu các nhà phê bình đến với cái mới trân trọng cái mới kích thích cái mới làm cho cái mới luôn rộng đường dư luận. Trong tình hình hiện nay đó là những người dũng cảm.

       Đó cũng là không khí của một nền văn học quẫy động một nền văn học sung sức và phát triển mà chúng ta ước muốn.

Nguyễn Đức Tùng:

Xin trân trọng cám ơn anh Hoàng Vũ thuật.

More...